Đánh giá: 5.5/10 từ 2 lượt
Tác giả: Nguyễn Hưng Quốc
Thể loại: Truyện Ngắn
Giới thiệu:
Tôi Học Tiếng Việc
Năm 1977, ở Mỹ mới được hai năm, nhà thơ Cao Tần, trong bài Chốn tạm dung , đã lo: Tiếng Việt trong ta ngày mỗi héo . Tôi xa Việt Nam đã gần 20 năm, gấp mười thời gian của ông lúc ấy, có lo kể cũng phải. Bởi vậy, để ngăn chận sự tàn héo và rơi rụng của tiếng Việt, lâu lâu tôi lại lẩm nhẩm, một mình, ôn lại số lượng từ vựng đã biết. Mỗi lần tập trung vào một đề tài khác nhau. Mới đây nhất, đề tài tôi chọn, một cách khá tình cờ, là bảng từ vựng liên quan đến các bộ phận trên cơ thể. Đầu... tóc... ót... gáy... trán... màng tang... lông mày... mắt... Đến đó, bỗng dưng tôi khựng lại. Tôi đâm hoang mang không biết khoảng giữa hai con mắt, ngay phía trên sống mũi, có tên gọi là gì? Hai chữ nhân trung thoáng qua đầu nhưng ngay tức khắc tôi biết là không phải: nhân trung nằm dưới mũi, ngay chính giữa môi trên. Loay hoay mãi vẫn không nhớ ra. Bí. Từ vị trí ấy, tôi nhìn nhích ra hai bên, ngờ ngợ thấy cách gọi lông mày và lông mi quen thuộc hình như có vấn đề gì đó không ổn. Ai cũng biết lông mày nằm trên, còn lông mi thì nằm dưới, ngay ở mí mắt trên. Chúng khác nhau. Nhưng nguyên thuỷ, mi trong trong chữ Hán chỉ có nghĩa là mày trong tiếng Việt: tu mi có nghĩa là râu mày. Về phương diện ngữ nghĩa, mi và mày chỉ là một, tuy nhiên, trên thực tế, lông mi lại đồng nghĩa với lông nheo chứ không phải với lông mày. Lạ.
Nằm giữa con mắt, ngay chính giữa lòng đen là con ngươi. Ngươi là gì? Là người. Con ngươi thật ra là con người. Ý nghĩa ấy bây giờ vẫn còn thấy rõ trong các từ: dể ngươi, hổ ngươi... và trong các cách nói: các ngươi hay nhà ngươi. Chợt nhớ trong chữ Hán, người ta gọi con ngươi là đồng tử, mà đồng tử lại còn có nghĩa là đứa bé.[1] Lại nhớ trong tiếng Anh, con ngươi là pupil mà pupil lại có nghĩa là học trò. Rồi trong tiếng Pháp: con ngươi là pupille mà pupille lại có nghĩa là đứa trẻ mồ côi hay là con nuôi. Nghe nói ở vô số ngôn ngữ khác trên thế giới cũng có hiện tượng tương tự. Danh từ chỉ con ngươi cũng đồng thời mang ý nghĩa khác là học trò, là đứa bé hay là con người nói chung. Tại sao có sự trùng hợp lạ lùng như thế?[2]
Sự trùng hợp không dừng lại ở đó. Nó đi xa hơn, trong quan niệm về thân thể. Trong rất nhiều ngôn ngữ, người ta xem thân thể như một cái bình chứa đựng những cảm xúc và tư tưởng. Tả một người phụ nữ đang yêu hay đang giận, trong tiếng Anh người ta thường nói: She is filled with love / anger. Đối với người Trung Hoa, thân thể con người được xem như một cái bình chứa khí. Giận thì là nộ khí; vui là hỉ khí. Bình thường khí nằm phục trong người. Ai làm chủ được khí thì nét mặt và dáng người lúc nào cũng tươi tỉnh, thanh nhàn, bình yên. Người không nén được khí để cơn giận bốc lên thì mặt đỏ gấc, tóc dựng đứng cả lên, còn mắt thì long lên sòng sọc; cả thân thể trông giống như một bình ga sắp nổ bùng.
Trong tiếng Việt, chúng ta cũng có thể nhận ra những quan niệm tương tự. Yêu, thương, hay hờn, giận, chúng ta đều để bụng, tức là, nói cách khác, xem cái bụng như một kho chứa. Khi sự giận dữ lên đến cực điểm, nó có thể làm cho cái kho chứa ấy căng lên, nứt ra, do đó, chúng ta hay có những cách nói như: giận tràn hông , giận cành hông , giận ứ gan , giận tím mật , giận bể bụng . Có khi cảm giác giận dữ trào lên trên, tạo ra những cách nói như: tức lòi họng , tức hộc gạch , tức hộc máu , tức ói máu , tức trào máu hay tức trào máu họng .
Nhưng hay nhất là chữ tức mình . Các cuốn từ điển tiếng Việt đều giải thích chữ tức là ở trạng thái có vật chứa đựng bên trong bị dồn nén quá chặt đến mức gần như không thể chịu đựng nổi. Chẳng hạn, chúng ta hay nói: tức nước vỡ bờ; ăn no quá bụng tức anh ách; tức lòng súng, súng nổ / đau lòng gỗ, gỗ kêu vang... Chữ tức mình cũng tương tự. Mình là thân thể. Tức mình là cảm giác giận dữ, giống như một luồng khí bị nén chặt, làm cho cả cơ thể như căng ra, tưởng như có thể nổ bùng, tạo cảm giác rất khó chịu. Cảm giác khó chịu ấy cụ thể đến độ người ta có thể ví von, tức như bị bò đá hay tức muốn lòi con ngươi .
Bên cạnh những điểm trùng hợp như thế, ngôn ngữ nào cũng có vô số những đặc thù riêng. Chỉ lẩm nhẩm những từ chỉ các bộ phận trên khuôn mặt, tôi đã nhận ra ngay một số điều thú vị:
Thứ nhất, như một số người đã đề cập,[3] số lượng từ bắt đầu bằng phụ âm M khá nhiều: mặt, mắt, mày, mi, mí, mũi, miệng, mồm, môi, mép, má, màng (tang)... Hình như trên khuôn mặt, trong các bộ phận chính và nổi bên ngoài, chỉ có chữ trán, cằm và râu là không bắt đầu bằng phụ âm M. Tại sao có hiện tượng lạ lùng như thế? Nó có quan hệ gì đến hiện tượng hầu hết các từ chỉ mẹ đều bắt đầu bằng phụ âm M: mẹ, má, me, mợ, mẫu, mère, maman, mother, mom, momma, mommy, mum, mummy, v.v...? Có lẽ có. Lý do được nhiều người nêu ra: Trong các phụ âm, phụ âm M là dễ nói nhất. Chỉ cần mở miệng khi luồng hơi từ trong cổ bật ra là chúng ta có ngay phụ âm M. Nó khác với việc phát âm các phụ âm khác, như B, C (K), D, Đ, G, K, KH, L, N, NG..., những phụ âm đòi hỏi chúng ta phải dùng môi hoặc răng hoặc lưỡi để chận luồng hơi lại, đâu đó. Chính vì dễ phát âm như thế cho nên loài người đã có khuynh hướng gọi ngay cái người sinh đẻ ra mình, chăm sóc và âu yếm mình bằng một chữ bắt đầu bằng M. Và, tôi đoán, chính người mẹ ấy, khi dạy chúng ta nói năng, cũng đã dạy ta cách gọi tên những từ ngữ dễ nhất và những sự vật gần gũi và quen thuộc nhất. Chúng ta hãy nhớ lại xem, thuở còn nhỏ, những bài học đầu tiên về ngôn ngữ của chúng ta là gì? Hầu như ở mọi người, những bài học ấy khá giống nhau. Đầu tiên là mẹ hay là ba. Sau đó là các bộ phận trên khuôn mặt. Mẹ sẽ chỉ cho ta con mắt và dạy: mắt; chỉ lỗ mũi và dạy: mũi. Cứ thế, chúng ta mở rộng dần kho từ vựng của mình bắt đầu từ những từ chỉ các bộ phận trên khuôn mặt. Có lẽ các bà mẹ Việt Nam, bằng trực giác nhạy bén của mình, đã khám phá ra sự dễ dàng trong việc phát âm của phụ âm M, do đó, ngay từ thuở xa xưa, đã bắt đầu các tên gọi chỉ các bộ phận trên khuôn mặt bằng cái phụ âm dễ nhất đó. Nhờ thế, ngày nay chúng ta có những mặt, những mắt, mày, mi, mí, mũi, miệng, mồm, mép, môi, má và màng tang. Tất cả đều bắt đầu bằng phụ âm M. Có lẽ thế. Có lẽ: đây chỉ là một giả thuyết mà thôi.
Thứ hai, chúng ta cũng cần lưu ý là số lượng động từ liên quan đến con mắt khá nhiều: nhìn, ngó, ngắm, nhắm, trông, thấy, rình, xem, coi. Chưa hết. Còn nom, dòm, nhòm. Rồi lườm, gườm. Cũng chưa hết. Với con mắt, chúng ta còn trợn, còn trừng, còn háy, còn nháy, còn nheo, còn nguýt, còn quắc, còn liếc xéo, liếc dọc, liếc ngang, rồi đưa mắt, ghé mắt, híp mắt, quáng mắt, hoa mắt, v.v... Chúng ta thử so sánh với những động từ liên quan đến lỗ tai, lỗ mũi hay ngay cả cái miệng, chúng ta có thể thấy ngay sự giàu có lạ lùng trong các động tác liên quan đến con mắt. Ngẫu nhiên chăng? Chắc không phải. Không chừng nó lại liên quan đến nền văn hoá liếc mắt của chúng ta.
Keywords:
Tôi Học Tiếng Việc
,
audiobook
,
sách nói
,
sách audio
,
truyện audio
,
sách nói cho người mù
,
sách lịch sử
,
văn học
,
thư viện sách
,
Nàng Công Chúa Ngủ Trong Rừng
,
Bình Vôi
,
Càn Khôn Song Tuyệt
,
Cha Và Con Gái
,
Đêm Trắng
,
Harry Potter Và Tên Tù Nhân Ngục Azkaban
,
Lớp Học Siêu Quậy
,
Ái Đích Quyền Đầu
,
Bí Mật Mảnh Ghép Quỷ
,
Buổi Sáng Ngày Ba Mươi
,
Sự Trả Thù Của Ác Quỷ Devil And Angel
,
Nguyện Giả Thượng Câu
,
Tôi Là Bêtô
,
1001 Đêm Tân Hôn
,
Tiếng Gọi Trong Đêm
,
Giới Thần
,
Tan Vỡ
,
Nghiệt Ngã Những Mảnh Đời
,
Ăn Chịu Thử Một Lần
,
Cưng À Đừng Vờ Đứng Đắn Nữa
,
Xóm Nghèo Ăn Tết Chó
,
Cuộc Sống Mỹ Vị Của Tiểu Nương Tử
,
Hầu Gái Của Ác Quỷ
,
Ngậm Ngùi Gió Cát
,
Con Người Phóng Đãng
,
Gỏi Xoài Xanh
,
Tam Sinh Tam Thế Thập Lý Đào Hoa
,
Cây Người
,
Luật Sư Phúc Hắc Quá Nguy Hiểm
,
Bóng Sói Hú
,
Từ Bỏ Thế Giới Vàng Phần Ii
,
Khắc Khoải Đợi Chờ
,
Bình luận truyện